Thứ Tư, 17 tháng 7, 2019

Chúa Nhật 16 TN - C

Ca nhập lễ

Này con được Thiên Chúa phù trì,
thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ.
Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế,
lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài,
vì danh Ngài thiện hảo.
Bài đọc 1

Thưa Ngài, xin Ngài đừng đi qua mà không ghé thăm tôi tớ Ngài.
Bài trích sách Sáng thế.
1 Ngày ấy, Đức Chúa hiện ra với ông Áp-ra-ham tại cụm sồi Mam-rê, khi ông đang ngồi ở cửa lều, vào lúc nóng nực nhất trong ngày. 2 Ông ngước mắt lên thì thấy có ba người đứng gần ông. Vừa thấy, ông liền từ cửa lều chạy ra đón khách, sụp xuống đất lạy 3 và nói : “Thưa Ngài, nếu tôi được đẹp lòng Ngài, thì xin Ngài đừng đi qua mà không ghé thăm tôi tớ Ngài. 4 Để tôi cho lấy chút nước, mời các ngài rửa chân rồi nằm nghỉ dưới gốc cây. 5 Tôi xin đi lấy ít bánh, để các ngài dùng cho chắc dạ, trước khi tiếp tục đi, vì các ngài đã ghé thăm tôi tớ các ngài đây !” Khách trả lời : “Xin cứ làm như ông vừa nói !”
6 Ông Áp-ra-ham vội vã vào lều tìm bà Xa-ra mà bảo : “Bà mau mau lấy ba thúng tinh bột mà nhồi, rồi làm bánh.” 7 Ông chạy lại đàn vật, bắt một con bê non béo tốt, giao cho người đầy tớ, và anh này vội vã làm thịt. 8 Ông lấy sữa chua, sữa tươi và thịt bê đã làm, mà đãi khách ; rồi ông đứng hầu dưới gốc cây, đang khi khách dùng bữa.
9 Khách nói với ông : “Bà Xa-ra vợ ông đâu ?” Ông đáp : “Thưa nhà tôi ở trong lều.” 10a Người nói : “Sang năm, tôi sẽ trở lại thăm ông, và khi đó bà Xa-ra vợ ông sẽ có một con trai.”
Đáp ca

Đ.Lạy Chúa, ai được vào ngụ trong nhà Chúa ?
2Kẻ nào sống vẹn toàn,
luôn làm điều ngay thẳng,
bụng nghĩ sao nói vậy,3amiệng lưỡi chẳng vu oan.
Đ.Lạy Chúa, ai được vào ngụ trong nhà Chúa ?
3bcKhông làm hại người nào,
chẳng làm ai nhục nhã.4abCoi khinh phường gian ác,
trọng ai kính Chúa Trời.
Đ.Lạy Chúa, ai được vào ngụ trong nhà Chúa ?
5Cho vay không đặt lãi,
chẳng nhận quà hối lộ
mà hại đến người ngay.
Phàm ai làm những điều này
không hề nao núng chuyển lay bao giờ.
Đ.Lạy Chúa, ai được vào ngụ trong nhà Chúa ?
Bài đọc 2

Mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời đại và qua bao thế hệ, nhưng nay đã được tỏ ra cho dân thánh của Thiên Chúa.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-lô-xê.
24 Thưa anh em, giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh. 25 Tôi đã trở nên người phục vụ Hội Thánh, theo kế hoạch Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em : đó là tôi phải rao giảng lời của Người cho trọn vẹn, 26 rao giảng mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời đại và qua bao thế hệ, nhưng nay đã được tỏ ra cho dân thánh của Thiên Chúa. 27 Người đã muốn cho họ được biết mầu nhiệm này phong phú và hiển hách biết bao giữa các dân ngoại : đó là chính Đức Ki-tô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang. 28 Chính Người là Đấng chúng tôi rao giảng, khi khuyên bảo mỗi người và dạy dỗ mỗi người với tất cả sự khôn ngoan, để giúp mỗi người nên hoàn thiện trong Đức Ki-tô.
Tung hô Tin Mừng
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui. Hạnh phúc thay người thành tâm thiện chí, hằng ấp ủ lời Chúa trong lòng, nhờ kiên nhẫn mà sinh hoa kết quả. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng

Cô Mác-ta đón Đức Giê-su vào nhà. Cô Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
38 Khi ấy, Đức Giê-su vào một làng kia. Có một người phụ nữ tên là Mác-ta đón Người vào nhà. 39 Cô có người em gái tên là Ma-ri-a. Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy. 40 Còn cô Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói : “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao ? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay !” 41 Chúa đáp : “Mác-ta ! Mác-ta ơi ! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá ! 42 Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị lấy đi.”
Ca hiệp lễ

Chúa đã truyền tưởng niệm
những kỳ công của Người.
Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
Ai kính sợ Người, Người ban phát của ăn.
Suy niệm và cầu nguyện
Suy Niệm
Trên dặm đường rao giảng Tin Mừng,
thỉnh thoảng Ðức Giêsu và các môn đệ
gặp được một chỗ nghỉ chân chan chứa tình người.
Mácta là chủ nhà đón tiếp Ðức Giêsu.
Chị tất bật lo việc tiếp đãi nấu nướng,
chị lo lắng trước bao việc phải làm ngay
để có được một bữa ăn thịnh soạn
hầu tỏ lòng kính trọng đối với vị khách quý.
Trong khi đó cô em Maria lại vô tư và bình thản,
ngồi dưới chân Chúa mà nghe Lời Người.
Maria say mê nghe Lời Chúa,
Lời mở tâm tư cô ra trước những chân trời mới mẻ.
Cô thấy chẳng có gì hạnh phúc hơn giây phút này,
được ngồi nghe Thầy giảng như một môn đệ thực thụ.
Mácta không hiểu được cô em gái,
chị cũng không hiểu được Ðức Giêsu,
nên cuối cùng chị đã đến thưa với Chúa:
Thầy không để ý tới sao?
Mácta muốn Thầy để ý đến việc mình đang làm,
muốn Thầy nhận ra sự vất vả mình phải chịu.
Em con để mình con phục vụ.
Mácta tưởng chỉ có mình mới là người phục vụ.
Chị không nhận thấy rằng Maria cũng đang tiếp khách
và ngồi nghe Chúa cũng là một cách phục vụ.
Xin Thầy bảo em giúp con một tay.
Mácta kéo Ðức Giêsu vào cuộc,
kéo Ngài đứng về phía mình, phía đúng,
để gây áp lực trên cô em.
Chị muốn Maria phải vào bếp với mình,
phải phục vụ theo kiểu của mình.
Ngấm ngầm, Mácta không chấp nhận kiểu phục vụ của Maria.
Có lẽ chị nghĩ đó là một hành vi vô ích,
trong khi có biết bao việc quan trọng khác cần làm.
Ðức Giêsu không ghét Mácta,
không coi nhẹ việc phục vụ của chị,
nhưng buộc lòng Ngài phải lên tiếng.
Ngài muốn giải phóng Mácta khỏi nỗi bồn chồn quá mức.
Ngài muốn giải phóng chị khỏi cái tôi, khỏi lối nhìn hẹp hòi,
để nhận ra điều duy nhất cần thiết.
Ngài gọi tên chị hai lần: Mácta! Mácta!
Con lo lắng và xao động vì nhiều chuyện quá,
dù chuyện ấy là chuyện con lo cho Thầy.
Cần thanh lọc lòng mình khỏi những tìm kiếm vị kỷ,
khỏi những ganh tị nhỏ mọn và tự mãn ngấm ngầm,
để có thể làm việc cho Chúa trong bình an thư thái,
dù có gặp thất bại hay bị lãng quên.
Chỉ có một chuyện cần mà thôi.
Coi chừng nỗi lo lắng về nhiều chuyện phụ
lại làm ta quên mất chuyện chính, một chuyện cần hơn cả,
đó là an tĩnh gặp gỡ và lắng nghe Chúa mỗi ngày
trong tư thế khiêm hạ của người môn đệ.
Cuộc sống dồn dập hôm nay dễ biến chúng ta thành Mácta:
xao động, âu lo, căng thẳng, mất kiên nhẫn.
Cả người làm việc cho Chúa cũng bị cuốn hút.
Có lẽ cần bớt việc và thêm giờ cầu nguyện,
cần để cho Chúa làm việc nơi tôi và qua tôi
thay vì tự mình bươn chải một mình.
Phải chăng đời Kitô hữu là kết hợp giữa Mácta và Maria,
giữa tất bật và an tĩnh,
giữa lăng xăng và ngồi yên,
giữa hoạt động và cầu nguyện?
Ðể rồi giữa tất bật, tôi tìm thấy an tĩnh,
giữa lăng xăng, tôi thấy mình ngồi yên,
giữa hoạt động, tôi thấy mình chiêm niệm.
 Cầu Nguyện
Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào,
xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng.
Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc,
xin cho con quý chuộng những lúc
được an nghỉ trước nhan Chúa.

Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo,
xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa
   để nghe Lời Người.
Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng,
xin cho con thoát được lên cao
nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.

Lạy Chúa,
ước gì tinh thần cầu nguyện
thấm nhuần vào cả đời con.
Nhờ cầu nguyện,
xin cho con gặp được con người thật của con
và khuôn mặt thật của Chúa.

Thứ Bảy Tuần 15 TN

Ca nhập lễ

Phần con đây,
nhờ sống công minh chính trực,
nên sẽ được trông thấy mặt Ngài ;
khi thức giấc,
được thoả tình chiêm ngưỡng thánh nhan.
Bài đọc 1

Đêm ấy Đức Chúa đưa con cái Ít-ra-en ra khỏi đất Ai-cập.
Bài trích sách Xuất hành.
37 Hồi ấy, con cái Ít-ra-en nhổ trại rời Ram-xết đi Xúc-cốt, có khoảng sáu trăm ngàn bộ hành, chỉ kể đàn ông không kể trẻ con. 38 Cả một đám đông hỗn tạp cùng lên với họ, mang theo chiên cừu, bò dê, họp thành một đàn súc vật đông đảo. 39 Họ lấy bột đã nhào đưa từ Ai-cập ra mà nướng thành bánh không men, vì bột chưa dậy men ; họ bị trục xuất khỏi Ai-cập, không được chậm trễ, nên ngay cả lương thực cũng không kịp chuẩn bị. 40 Thời gian con cái Ít-ra-en ở Ai-cập là bốn trăm ba mươi năm. 41 Vào đúng ngày chấm dứt bốn trăm ba mươi năm đó, toàn thể các đạo binh của Đức Chúa đã ra khỏi đất Ai-cập. 42 Đó là đêm Đức Chúa canh thức để đưa họ ra khỏi đất Ai-cập ; đêm đó thuộc về Đức Chúa, đêm canh thức của toàn thể con cái Ít-ra-en, qua mọi thế hệ.
Đáp ca

Đ.Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
1Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.23Chúa đã nhớ đến ta giữa cảnh nhục nhằn,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,24gỡ ta thoát khỏi tay thù địch,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Đ.Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
10Người sát hại các con đầu lòng Ai-cập,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,11dang cánh tay uy quyền mạnh mẽ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,12dẫn Ít-ra-en ra khỏi xứ này,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Đ.Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
13Nước Biển Đỏ, Chúa phân làm hai khối,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,14đưa Ít-ra-en lối giữa băng qua,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,15xô xuống biển Pha-ra-ô cùng binh tướng,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Đ.Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Tung hô Tin Mừng

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người, và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng

Đức Giê-su cấm dân chúng không được tiết lộ Người là ai, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
14 Khi ấy, nhóm Pha-ri-sêu ra khỏi hội đường, bàn bạc để tìm cách giết Đức Giê-su.
15 Biết vậy, Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó. Dân chúng theo Người đông đảo và Người chữa lành hết. 16 Người cấm họ không được tiết lộ Người là ai. 17 Như thế là để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 18 Đây là người Tôi Trung Ta đã tuyển chọn, đây là người Ta yêu dấu : Ta hài lòng về Người. Ta sẽ cho Thần Khí Ta ngự trên Người. Người sẽ loan báo công lý trước muôn dân. 19 Người sẽ không cãi vã, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường. 20 Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng, 21và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người.
Ca hiệp lễ

Lạy Chúa Tể càn khôn,
là Đức Vua, là Thiên Chúa con thờ,
ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm,
cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con
bên bàn thờ của Chúa.
Phúc thay người ở trong thánh điện
họ luôn luôn được hát mừng Ngài.
Suy niệm và cầu nguyện
Suy niệm
Chúng ta đã từng thấy một Đức Giêsu đầy uy quyền
trong Bài Giảng trên núi và trong các phép lạ (Mt 6-9).
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy một Đức Giêsu ở vào thế yếu.
Khi biết nhóm Pharisêu tìm cách giết mình thì Ngài lánh đi (c. 15).
Ngài đã lánh đi nhiều lần khi gặp chống đối và đe dọa.
Ngài lánh đi khi nghe tin Gioan bị nộp, rồi bị giết (Mt 4, 12; 14, 13).
Ngài chỉ đón lấy cái chết khi Cha muốn.
Đức Giêsu có tiếng tăm nhưng cũng rất âm thầm.
Ngài chữa bệnh cho đám đông theo Ngài, nhưng lại muốn giữ kín (c. 16).
Ngài không muốn những phô trương rầm rộ, những biểu dương hoành tráng.
Đây là chọn lựa của Ngài ngay từ đầu sứ vụ
khi Ngài từ chối không nhảy xuống từ nóc đền thờ để người ta vỗ tay.
Và Ngài đã sống sự âm thầm này đến cuối đời
khi Ngài không bước xuống khỏi thập giá để được kẻ thù tin kính.
Sự phục sinh của Ngài có thể nói cũng là chuyện âm thầm,
vì Ngài chỉ hiện ra với các môn đệ của Ngài (1 Cr 15, 5-8).
Ngài chẳng hiện ra để đòi mạng Philatô, Caipha, Hêrốt…
Giáo hội nhỏ bé của Ngài cũng đã âm thầm lớn lên sau hai mươi thế kỷ.
Giáo hội này vẫn từ chối dùng quyền lực và bạo lực để xây dựng Nước Trời.
Các kitô hữu đầu tiên đã thấy khuôn mặt người Tôi Trung nơi Đức Giêsu.
Đức Giêsu đã làm trọn từng nét của người Tôi Trung này (Is 42, 1-4).
Đây là người được Thiên Chúa yêu mến, tuyển chọn và hài lòng,
là người có Thần Khí Thiên Chúa, để được sai đến với muôn dân.
Người Tôi Trung này sẽ loan báo công lý trước muôn dân,
và sẽ đưa công lý đến toàn thắng (c. 20).
Tuy nhiên việc loan báo của người Tôi Trung này lại không ồn ào.
“Người sẽ không cãi vã, không kêu to,
chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường” (c. 19).
Đức Giêsu đã loan báo Tin Mừng như một lời mời gọi.
Ngài không dùng quyền năng Cha ban để đe dọa hay làm hại ai,
nhưng để phục vụ mọi người trong âm thầm và khiêm hạ.
Không bẻ gẫy cây lau bị giập, không làm tắt tim đèn leo lét (c. 20).
Nâng niu những gì còn có chút hy vọng,
gìn giữ những sự sống mong manh và khơi dậy những thiện chí còn ẩn dấu.
Đó là điều Đức Giêsu vẫn làm khi đến với những người bị loại trừ,
những tội nhân và người thu thuế.
Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã nhắn nhủ các Đức Giám Mục Việt Nam
trong buổi triều yết ngày 27-6-2009 như sau :
“Trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng nhau,
chỉ mong Giáo hội có thể góp phần xứng đáng vào sinh hoạt quốc gia,
vào việc phục vụ tất cả người dân.”
Xin cho chúng ta biết sống phục vụ như người Tôi Trung Giêsu
để “xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và bình đẳng.”
Lời nguyện
Lạy Thầy Giêsu,
Thầy không gọi chúng con là tôi tớ,
Thầy cũng không chỉ coi chúng con là môn đệ.
Thầy còn coi chúng con như bạn hữu của Thầy,
Vì Thầy đã thổ lộ cho chúng con
Những điều riêng tư thầm kín nhất
Trong tương quan giữa Thầy với Cha.
Hơn nữa, sau phục sinh,
Thầy đã gọi các môn đệ là anh em.
Mặc nhiên Thầy tự nhận mình là Anh Trưởng
Đứng đầu một đoàn em đông đúc.
Xin cho chúng con
Luôn thi hành ý muốn của Cha
Để trở nên những người em
Cùng huyết nhục với Thầy.
Lạy Thầy Giêsu, Thầy đã nâng chúng con lên
Làm môn đệ, làm bạn, làm anh em của Thầy.
Còn Thầy lại hạ mình xuống
Phục vụ chúng con như người tôi tớ,
Rửa chân cho chúng con như một nôlệ
Và chết thay cho chúng con trên thập giá.
Xin cho chúng con hiểu được tấm lòng của Thầy
Và sống yêu thương mọi người như anh em. Amen.

Thứ Sáu Tuần 15 TN

Ca nhập lễ

Phần con đây,
nhờ sống công minh chính trực,
nên sẽ được trông thấy mặt Ngài ;
khi thức giấc,
được thoả tình chiêm ngưỡng thánh nhan.
Bài đọc 1

Các ngươi phải sát tế một con chiên vào lúc xế chiều ; thấy máu, Ta sẽ vượt qua.
Bài trích sách Xuất hành.
11 10 Ngày ấy, ông Mô-sê và ông A-ha-ron làm mọi thứ phép lạ trước mặt Pha-ra-ô ; nhưng Đức Chúa làm cho lòng Pha-ra-ô ra chai đá, và vua không thả con cái Ít-ra-en ra khỏi xứ.
12 1 Đức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron trên đất Ai-cập : 2 “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. 3 Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en : Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. 4 Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. 5 Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. 6 Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, 7 lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. 8 Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng. 9 Các ngươi không được ăn sống hay luộc, nhưng chỉ được ăn nướng, với cả đầu, chân và lòng. 10 Không được để lại gì đến sáng ; cái gì còn lại đến sáng, phải đốt đi. 11 Các ngươi phải ăn thế này : lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã : đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. 12 Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Ai-cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai-cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai-cập : vì Ta là Đức Chúa. 13 Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai-cập. 14 Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này : đó là luật quy định cho đến muôn đời.”

Đáp ca

Đ.Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ 
và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.
12Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ
vì mọi ơn lành Người đã ban cho ?13Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ
và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.
Đ.Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ
và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.
15Đối với Chúa thật là đắt giá
cái chết của những ai trung hiếu với Người.16Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ,
tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài,
xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi.
Đ.Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ
và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.
17Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn,
và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.18Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn,
trước toàn thể dân Người.
Đ.Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ
và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.
Tung hô Tin Mừng
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi ; tôi biết chúng, và chúng theo tôi. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng

Con Người làm chủ ngày sa-bát.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khi ấy, vào ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa ; các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn. 2 Người Pha-ri-sêu thấy vậy, mới nói với Đức Giê-su : “Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát !” 3 Người đáp : “Các ông chưa đọc trong Sách sao ? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ đói bụng ? 4 Ông vào nhà Thiên Chúa, và đã cùng thuộc hạ ăn bánh tiến. Thứ bánh này, họ không được phép ăn, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi. 5 Hay các ông chưa đọc trong sách Luật rằng ngày sa-bát, các tư tế trong Đền Thờ vi phạm luật sa-bát mà không mắc tội đó sao ? 6 Tôi nói cho các ông hay : ở đây còn lớn hơn Đền Thờ nữa. 7 Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này : Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội. 8 Quả thế, Con Người làm chủ ngày sa-bát.”
Ca hiệp lễ

Lạy Chúa Tể càn khôn,
là Đức Vua, là Thiên Chúa con thờ,
ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm,
cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con
bên bàn thờ của Chúa.
Phúc thay người ở trong thánh điện
họ luôn luôn được hát mừng Ngài.
Suy niệm và cầu nguyện
Suy niệm
Đức Khổng Tử đòi người quân tử phải có năm đức tính gọi là ngũ thường.
Đứng đầu của ngũ thường là lòng nhân.
Ngài viết : “Người quân tử mà bỏ đức nhân thì làm sao được gọi là quân tử?
Người quân tử dù trong một bữa ăn cũng không làm trái điều nhân,
dù trong lúc vội vàng cũng theo điều nhân” (Luận Ngữ, IV, 5).
Trong giáo huấn của Đức Giêsu, lòng nhân có một chỗ đứng đặc biệt.
Hai lần câu này của ngôn sứ Hôsê được trích dẫn trong Mátthêu :
“Ta muốn lòng nhân, chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9, 13; 12, 7).
Xem ra câu này không dễ hiểu, nên Ngài khuyên ta học cho biết ý nghĩa.
Giữ ngày sabát là điều rất quan trọng trong Do-thái giáo.
Theo Luật Chúa, đó là ngày nghỉ ngơi, ngừng mọi công việc.
Đối với người Pharisêu, bứt lúa được xem như gặt lúa, nên là việc bị cấm làm.
Hành vi bứt lúa của các môn đệ bị coi là vi phạm ngày sa-bát.
Thay vì trách họ theo lời người Pharisêu, Thầy Giêsu lại bênh vực họ.
Ngài trưng dẫn trường hợp Đavít và các thuộc hạ khi đói bụng
đã ăn bánh thánh hiến vốn dành riêng cho các tư tế (Lv 24,5-9; 1 Sm 21,1-6).
Hiển nhiên đây là chuyện vi phạm Lề Luật vì có nhu cầu chính đáng.
Nếu chấp nhận chuyện Đavít thì càng phải chấp nhận chuyện của các môn đệ,
vì họ đi theo một Đấng mà Đavít phải gọi là Chúa (Mt 22, 43).
Luật giữ ngày sabát thật ra không phải là một đòi buộc luân lý tuyệt đối.
Các tư tế phải làm việc phụng sự Chúa, chuẩn bị các lễ vật vào ngày sabát.
Nếu họ được phép vi phạm ngày sabát mà không mắc tội (c. 5),
thì huống hồ là Thầy Giêsu và các môn đệ của Ngài,
những người làm việc cho Nước Trời, nhưng lại phải chịu đói nên mới bứt lúa.
Đức Giêsu không có thái độ bất kính với ngày sabát.
Nhưng Ngài là chủ ngày sabát, Ngài có quyền xác định điều gì được phép làm.
Ngài thấy gánh nặng đè lên con người bởi những cấm đoán chi li,
khiến con người ngột ngạt, mệt mỏi.
Giữ Luật phải đem lại cho con người hạnh phúc,
phải đi với lòng nhân.
Giữ Luật mà cứng nhắc, thiếu lòng nhân, lòng bao dung,
thì đó là thứ hy lễ Chúa không cần (Hs 6, 6).
Thật ra không có sự đối nghịch giữa luật lệ với lòng nhân.
Giữ luật là cách biểu lộ lòng nhân, vì luật trên hết là luật yêu thương.
Người giữ luật thực sự là người có khuôn mặt vui tươi và trái tim rộng mở.
Khi yêu thì người ta trở nên chi li.
Không phải chi li để xét đoán người khác.
Nhưng chi li vì thấy những nhu cầu nhỏ bé của tha nhân.
Chỉ xin giữ mọi luật lệ nhỏ bé thật chi li, chỉ vì yêu bằng tình yêu quá lớn.
Lời nguyện
Lạy Chúa GiêSu, vì con bé nhỏ
nên xin yêu Ngài bằng khả năng bé nhỏ của con.
Cho con biết yêu
những công việc bé nhỏ mỗi ngày
những công việc âm thầm
những bổn phận mà con làm vì yêu mến.
Cho con biết yêu những hy sinh bé nhỏ mỗi ngày,
vui lòng đón nhận những thánh giá tuy nhỏ
nhưng làm tim con đau đớn.
Cho con biết yêu tinh thần bé nhỏ của trẻ thơ,
đơn sơ thú nhận mình yếu đuối và bất lực
sung sướng nương tựa vào duy một mình Chúa.
Hơn nữa , xin cho con can đảm
dám chọn những gì giúp con nên nhỏ bé hơn
nhờ đó con vui tươi phục vụ mọi người
và hạnh phúc khi thấy Chúa lớn lên trong con.
Mỗi lần bị cám dỗ tự cao,
xin cho con biết ngắm nhìn con đường Chúa đã đi
con đường bé nhỏ và khiêm hạ.
Ước gì con được làm bạn của Chúa
trên đường từ BeLem đến Núi Sọ
và được ở bên Chúa trong Nước Trời. Amen

Thứ Năm Tuần 15 TN

Ca nhập lễ

Phần con đây,
nhờ sống công minh chính trực,
nên sẽ được trông thấy mặt Ngài ;
khi thức giấc,
được thoả tình chiêm ngưỡng thánh nhan.
Bài đọc 1

Ta là Đấng Hiện Hữu. Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.
Bài trích sách Xuất hành.
13 Ngày ấy, khi nghe tiếng Đức Chúa phán từ giữa bụi cây, ông Mô-sê thưa với Người : “Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ : Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con : ‘Tên Đấng ấy là gì’, thì con sẽ nói với họ làm sao ?” 14 Thiên Chúa phán với ông Mô-sê : “Ta là Đấng Hiện Hữu.” Người phán : “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này : “Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.” 15Thiên Chúa lại phán với ông Mô-sê : “Ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en thế này : Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp, sai tôi đến với anh em. Đó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia.”
16 “Ngươi hãy đi triệu tập các kỳ mục Ít-ra-en và nói với họ : Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, của I-xa-ác, của Gia-cóp, đã hiện ra với tôi và phán : Ta đã thật sự quan tâm đến các ngươi và cách người ta đối xử với các ngươi bên Ai-cập. 17 Ta đã phán : Ta sẽ cho các ngươi thoát cảnh khổ cực bên Ai-cập mà lên miền đất người Ca-na-an, Khết, E-mô-ri, Pơ-rít-di, Khi-vi và Giơ-vút, lên miền đất tràn trề sữa và mật. 18 Họ sẽ nghe tiếng ngươi ; rồi ngươi sẽ đi với các kỳ mục Ít-ra-en đến cùng vua Ai-cập, các ngươi sẽ nói với vua ấy rằng : Đức Chúa, Thiên Chúa của người Híp-ri, đã cho chúng tôi được gặp Người. Giờ đây, xin cho chúng tôi đi ba ngày đường vào sa mạc để tế lễ Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi. 19 Ta thừa biết rằng vua Ai-cập sẽ không cho các ngươi đi, trừ phi là có một bàn tay mạnh mẽ can thiệp. 20Ta sẽ ra tay, sẽ làm mọi thứ phép lạ giữa dân Ai-cập để đánh nó, và sau đó vua ấy sẽ cho các ngươi đi.”
Đáp ca

Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
1Hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn danh Người,
vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân.5Hãy nhớ lại những kỳ công Người thực hiện,
những dấu lạ và những quyết định Người phán ra.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
8Giao ước lập ra, muôn đời Người nhớ mãi,
nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ !9Đó là điều đã giao ước cùng Áp-ra-ham,
đã đoan thệ cùng I-xa-ác.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
24Chúa cho Dân Người tăng thêm gấp bội,
cho họ mạnh hơn cả đối phương.25Người khiến chúng thay lòng đổi dạ, mà đâm ra thù ghét,
dùng mưu mô chống lại các tôi tớ Người.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
26Chúa phái tôi tớ Người là Mô-sê,
phái A-ha-ron, kẻ Người tuyển chọn,27đến loan báo những điềm thiêng dấu lạ
trong toàn cõi đất Kham.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
Tung hô Tin Mừng
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng

Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
28 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”
Ca hiệp lễ

Lạy Chúa Tể càn khôn,
là Đức Vua, là Thiên Chúa con thờ,
ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm,
cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con
bên bàn thờ của Chúa.
Phúc thay người ở trong thánh điện
họ luôn luôn được hát mừng Ngài.
Suy niệm và cầu nguyện
Suy niệm
Sống làm người ở đời ai tránh được gánh nặng.
Chẳng phải chỉ những người bốc vác ở cảng mới mang gánh nặng.
Gánh nặng gắn liền với phận người.
Có gánh nặng gia đình, gánh nặng nghề nghiệp, gánh nặng tuổi tác.
Có gánh nặng buồn đau của quá khứ, gánh nặng lo âu cho tương lai.
Xem ra mỗi người không vác nổi gánh nặng của mình.
Ai cũng thấy có lúc cần đến người khác.
Đức Giêsu nhìn thấy những ai đang mang gánh nặng vào thời của Ngài.
Đặc biệt những kẻ phải giữ chi li hơn 600 điều luật của phái Pharisêu.
Luật Chúa lẽ ra phải đem đến niềm vui hạnh phúc,
thì lại trở thành “những gánh nặng chất lên vai người ta” (Mt 23, 4).
Đức Giêsu mời đến với Ngài tất cả những ai đang vất vả,
tất cả những ai chưa là môn đệ của Ngài.
Ngài hứa sẽ cho họ được nghỉ ngơi trong tâm hồn (cc. 28. 29).
Sự nghỉ ngơi ở đây chính là sự bình an sâu xa của người được cứu độ,
được hưởng các mối phúc ngay từ bây giờ,
và bắt đầu được sống trong ngày Sa-bát vĩnh cửu với Thiên Chúa.
“Hãy đến với tôi; hãy mang ách của tôi; hãy học với tôi.”
Lời mời của Đức Giêsu lôi kéo những ai vất vả đến với Ngài.
Ngài mời họ làm môn đệ và sống theo giáo huấn của Ngài.
Trong Cựu Ước, ách tượng trưng cho Luật Thiên Chúa ban cho Môsê
Đi theo làm học trò Đức Giêsu, không phải là không có ách.
Ách của Đức Giêsu chính là lời giáo huấn của Ngài.
Lời giáo huấn ấy chúng ta đã được nghe trong Bài Giảng trên núi.
“Ách của tôi êm ái và gánh của tôi nhẹ nhàng” (c. 30).
Nhiều người không hiểu tại sao Đức Giêsu lại bảo ách mình êm ái,
khi mà Ngài đưa ra những đòi hỏi triệt để hơn,
tận căn hơn những đòi hỏi của Luật được giải thích bởi Môsê.
Thật ra sự êm ái nhẹ nhàng không bắt nguồn từ việc được đòi hỏi ít hơn,
nhưng đến từ tình yêu của tôi đối với Đức Giêsu.
Bài Tin Mừng hôm nay có 7 chữ tôi.
Cái tôi hiền hậu và khiêm nhường của Đức Giêsu thu hút tôi mến Ngài
Chính tình yêu làm cho ách và gánh của Ngài trở nên êm nhẹ.
Người ta thấy nặng nề khi bị áp lực phải giữ các luật lệ bên ngoài,
nhưng lại dễ làm theo sự thúc đẩy của một tình yêu bên trong.
Tự do hơn và vui tươi hơn, đó là điều ta cảm thấy khi sống cho Giêsu.
Vẫn có những tín hữu cảm thấy đạo Công Giáo gò bó và bóp nghẹt.
Làm sao để việc giữ đạo, theo đạo, sống đạo,
không trở thành một gánh nặng đè trên người kitô hữu ?
Làm sao để chúng ta đơn sơ hơn và hồn nhiên hơn khi đến gặp Giêsu
và tìm được sự nghỉ ngơi cho tâm hồn mình giữa bao sóng gió?

Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã yêu trái đất này,
Và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết
Nỗi khổ đau và hạnh phúc,
Sự bi đát và cao cả của phận người.
Xin dạy chúng con biết đường lên trời,
Nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu,
Chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
Để xây dựng trái đất này,
Và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
Xin cho những vất vảcủa cuộc sống ở đời
Không làm chúng con quên trời cao;
Và những vẻ đẹp của trần gian
Không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.
Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
Mọi người thấy nước trời đang tỏ hiện.

Thứ Tư Tuần 15 TN

Ca nhập lễ
Phần con đây,
nhờ sống công minh chính trực,
nên sẽ được trông thấy mặt Ngài ;
khi thức giấc,
được thoả tình chiêm ngưỡng thánh nhan.
Bài đọc 1

Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra với ông Mô-sê trong đám lửa từ giữa bụi cây.
Bài trích sách Xuất hành.
1 Bấy giờ, ông Mô-sê đang chăn chiên cho bố vợ là Gít-rô, tư tế Ma-đi-an. Ông dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khô-rếp. 2 Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Mô-sê nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng không bị thiêu rụi. 3 Ông tự bảo : “Mình phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ này mới được : vì sao bụi cây lại không cháy rụi ?” 4 Đức Chúa thấy ông lại xem, thì từ giữa bụi cây Thiên Chúa gọi ông : “Mô-sê ! Mô-sê !” Ông thưa : “Dạ, tôi đây !” 5Người phán : “Chớ lại gần ! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh.” 6Người lại phán : “Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp.” Ông Mô-sê che mặt đi, vì sợ nhìn phải Thiên Chúa.
9 Đức Chúa phán : “Giờ đây, tiếng rên siết của con cái Ít-ra-en đã thấu tới Ta ; Ta cũng đã thấy cảnh áp bức chúng phải chịu vì người Ai-cập. 10 Bây giờ, ngươi hãy đi ! Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập.”
11 Ông Mô-sê thưa với Thiên Chúa : “Con là ai mà dám đến với Pha-ra-ô và đưa con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập ?” 12 Người phán : “Ta sẽ ở với ngươi. Và đây là dấu cho ngươi biết là Ta đã sai ngươi : khi ngươi đưa dân ra khỏi Ai-cập, các ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa trên núi này.”
Đáp ca


 Đ.Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
1Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi,
toàn thân tôi, hãy chúc tụng Thánh Danh !2Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi,
chớ khá quên mọi ân huệ của Người.
Đ.Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
3Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi,
thương chữa lành các bệnh tật ngươi.4Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt,
bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà.
Đ.Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
6Chúa phân xử công minh,
bênh quyền lợi những ai bị áp bức,7mặc khải cho Mô-sê biết đường lối của Người,
cho con cái nhà Ít-ra-en
thấy những kỳ công Người thực hiện.
Đ.Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.
Tung hô Tin Mừng

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng

Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
25 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. 26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.
27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”
Ca hiệp lễ

Lạy Chúa Tể càn khôn,
là Đức Vua, là Thiên Chúa con thờ,
ngay chim sẻ còn tìm được mái ấm,
cánh nhạn kia cũng làm tổ đặt con
bên bàn thờ của Chúa.
Phúc thay người ở trong thánh điện
họ luôn luôn được hát mừng Ngài.

Suy niệm và cầu nguyện
Suy niệm
Bài Tin Mừng hôm nay là một lời nguyện tự phát của Đức Giêsu.
Đó là một lời tạ ơn, một lời ngợi khen của Con dâng lên Cha.
Đức Giêsu gọi Thiên Chúa bằng từ Abba thân thương gần gũi,
nhưng Thiên Chúa ấy cũng là Đấng siêu việt ngàn trùng,
Đấng quyền uy tối thượng, Chúa Tể cả trời đất (c. 25).
Đức Giêsu ca ngợi Cha vì hành vi mặc khải của Cha cho con người.
Cha có một kế hoạch cứu độ nhân loại qua Con của Cha là Đức Giêsu.
Và Cha muốn vén mở kế hoạch đó cho con người biết.
Có những người đã thành tâm đón nhận, và có những người cố ý từ chối.
Nhưng tất cả đều không nằm ngoài chương trình của Cha (c. 26).
Lối nói kiểu Do thái của Đức Giêsu có thể khó hiểu đối với ta ngày nay:
“Cha đã giấu các điều này trước những người khôn ngoan thông thái.”
Thật ra, chẳng phải Thiên Chúa ghét bỏ hay phân biệt đối xử,
vì Ngài muốn cho mọi người được cứu độ (1 Tm 2, 4).
Chẳng phải Cha ghét bỏ các người khôn ngoan và cổ võ sự ngu dốt.
Ngài cũng không che giấu mầu nhiệm Nước Trời trước một ai.
Nhưng quả thật ai tự hào, tự mãn với hiểu biết khôn ngoan của mình,
và khép lại trước những gì vượt quá trí hiểu nông cạn của họ,
người ấy sẽ không có cơ may đón nhận được mặc khải của Thiên Chúa.
Một số kinh sư và người Pharisêu giỏi giang về Sách Thánh và truyền thống,
đã không thể đón nhận được cái hoàn toàn mới mẻ nơi giáo lý Đức Kitô,
vì họ quá bám víu vào cái biết cũ mà họ coi là tuyệt đối.
Nhưng các người bé mọn, ít tri thức và sách vở, lại dễ dàng đón nhận hơn.
Họ hồn nhiên mở ra trước mặc khải của Thiên Chúa qua Đức Giêsu.
Chính vì thế họ biết được những điều sức người không thể nào đạt tới.
Câu cuối (c. 27) là một mặc khải lớn của Đức Giêsu trong tư cách là Con.
Ngài cho thấy giữa Cha và Con có sự hiểu biết nhau cách độc nhất vô nhị.
“Không ai biết rõ Con trừ ra Cha và không ai biết rõ Cha trừ ra Con…”
Sự hiểu biết nhau thân tình và sâu xa này
như thể tạo ra một thế giới riêng giữa Cha và Con.
Muốn biết Cha phải nhờ Con, Đấng duy nhất có đủ thẩm quyền mặc khải.
Hơn nữa, muốn biết Con cũng phải nhờ Cha mặc khải.
Phêrô phải nhờ Cha mới biết được Đức Giêsu là ai (Mt 16, 17).
Nói chung Cha và Con làm nên một thế giới riêng tư, nồng ấm.
Nhưng thế giới ấy lại không khép kín, mà mở ra để mời con người vào.
Cha và Con đều muốn mặc khải thế giới ấy cho con người.
Cha đưa ta gặp Con, Con đưa ta gặp Cha.
Chỉ cần gặp Con hay Cha là có thể bước vào thế giới đó, để gặp cả Cha và Con.
Chị Edit Stein là một phụ nữ Do thái được coi là thông thái, trí tuệ.
Chị đậu tiến sĩ triết học với hạng tối danh dự tại Đức.
và là người cộng tác với ông tổ của Hiện tượng luận là triết gia Husserl.
Việc tìm kiếm Chân Lý đã dẫn chị đến với đạo Công giáo.
Chị đã đi tu Dòng Kín Cát Minh và đã bị giết tại trại giam của Đức quốc xã.
Chị Bênêđícta Thánh Giá được phong thánh năm 1998 bởi Đức Gioan Phaolô II.
Sự thông thái khiêm tốn đã giúp Chị gặp được Nước Trời như một kẻ bé mọn.\
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ,
nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói,
dễ thấy Chúa hiện diện
và hoạt động trong đời con.
Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa,
xin cho con đừng trở nên cứng cỏi,
khép kín và nghi ngờ.
Xin dạy con sự hiền hậu
để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân.
Xin dạy con sự khiêm nhu
để con dám buông đời con cho Chúa.
Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm,
vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài,
hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen.

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2019

Bản đúc kết Hội nghị thường kỳ các Đại Chủng viện tại Việt Nam từ ngày 1 đến 6/7/2019

Việc đào tạo linh mục luôn là mối quan tâm hàng đầu của Giáo Hội. Đây là “một cuộc đào tạo duy nhất, toàn diện, cộng đoàn và truyền giáo”[1]. Tại Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào, thuận lợi hay bất lợi, các vị Chủ chăn và cộng đoàn dân Chúa vẫn bền bỉ chăm lo cho công việc hệ trọng này.
Với ý nghĩa đó, kể từ năm 2005, Ủy ban Giáo sĩ-Chủng sinh, trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam, đã tổ chức các Hội nghị thường kỳ, hai năm một lần, để các nhà đào tạo của các Đại chủng viện có dịp gặp gỡ, học hỏi và chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm trong việc vun trồng ơn gọi linh mục.
Năm 2019 này, hội nghị diễn ra tại Trung tâm Mục vụ Đà Lạt, từ ngày 01 đến ngày 06 tháng 07, với chủ đề: “Chia sẻ về vệc đào tạo trưởng thành tình cảm và tinh thần truyền giáo tại các Đại Chủng viện ở Việt Nam”.


Quy tụ 55 linh mục đang làm việc tại 11 Đại chủng viện của Việt Nam cùng với các thuyết trình viên đến từ dòng Tôi Tớ Đấng Bầu Cử và Ủy ban truyền giáo cũng như một số khách mời đặc biệt, hội nghị diễn ra dưới sự chủ tọa của Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương, Chủ tịch Ủy ban Giáo sĩ-Chủng sinh, và Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng, Phó chủ tịch Ủy ban.
Bám sát các tài liệu của Giáo Hội liên quan đến việc huấn luyện các ứng sinh linh mục, đặc biệt Tông huấn Pastores Dabo Vobis, Đào tạo linh mục-định hướng và chỉ dẫn (Hội đồng Giám mục Việt Nam, 2012), Đào tạo linh mục-Hồng ân ơn gọi linh mục (Bộ giáo sĩ, 2016), nội dung hội nghị được xây dựng dựa trên hai sợi dây xuyên suốt nối kết và làm hài hòa bốn chiều kích đào tạo nhân bản, thiêng liêng, trí thức, và mục vụ, đó là đời sống cộng đoàn và truyền giáo.[2]
Trong suốt hội nghị, các tham dự viên đã dành nhiều thời gian để chia sẻ với nhau về việc đào tạo trưởng thành tình cảm nơi các ứng sinh linh mục cũng như cách thức huấn luyện tinh thần truyền giáo cho các ứng sinh.
Theo đó, vấn đề trưởng thành tình cảm được đề cập tới qua các đề tài: tính dục con người và sự trưởng thành tình cảm nơi các ứng sinh linh mục độc thân; việc phân định ơn gọi của người có xu hướng đồng tính luyến ái; đời sống độc thân, tính dục và sự vượt thoát của Chu kỳ (tập quán) của hành vi tính dục lệch lạc; sự thăng tiến và trung thành trong đời sống độc thân khiết tịnh.









Tiếp nối các đề tài về trưởng thành tình cảm, các đề tài về việc huấn luyện tinh thần truyền giáo được triển khai bao gồm Tông huấn Maximum Illud và tính thời sự của nó, việc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam qua các thư chung của Hội đồng Giám Mục vào năm 1980 -2001-2010, việc truyền giáo của Đức Cha Jean Cassaigne, và công cuộc truyền giáo tại Tổng giáo phận Sài Gòn.



Với những đề tài về trưởng thành tình cảm được đào sâu bởi Cha Peter Lester Lechner thuộc Dòng Tôi Tớ Đấng Bầu Cử, một chuyên viên dày dạn kinh nghiệm đã hơn 50 năm giúp cho những người gặp khó khăn trong đời sống tính dục và với các đề tài về tinh thần truyền được chia sẻ bởi cha Đaminh Ngô Quang Tuyên, Thư ký Ủy ban Loan Báo Tin Mừng, Cha Đaminh Trần Thả, giáo phận Đà Lạt, và Đức Cha Giuse, Giám quản Tông tòa Tổng giáo phận Sài gòn, các tham dự viên xác tín hơn nữa hai điểm được xem là cốt yếu và tối ưu, đó là:

- Về phía các nhà đào tạo: cần phải kết hiệp liên lỉ mật thiết với Chúa và sống hiệp nhất với nhau; có đời sống gương mẫu: “lời nói lung lay, gương lành lôi cuốn”. Họ được mời gọi sống giản dị, khó nghèo và gần gũi với chủng sinh, nhưng vẫn giữ tư cách đứng đắn nghiêm túc của nhà đào tạo. Họ tận tâm tận lực với chủng sinh, cố gắng đào sâu kiến thức và không ngừng đào luyện chính mình để lời nói và cuộc sống của họ trở nên khả tín hơn đối với những người thụ huấn: “Con người ngày nay cần chứng nhân hơn thầy dạy, và nếu họ tin vào thầy dạy thì bởi vì chính thầy dạy là chứng nhân.” [3]

- Về phía các chủng sinh: cần ý thức tầm quan trọng của việc được đào tạo và tự đào tạo. Công việc này đặt nền tảng trên đời sống thiêng liêng vững chắc, đó là cầu nguyện và biết lắng nghe tiếng Chúa, qua nhà đào tạo. Nhờ đó, họ sẽ vun đắp cho mình một tình yêu sâu đậm dành cho Chúa Giêsu, một tình yêu không chỉ giới hạn trong những sinh hoạt thiêng liêng, mà còn được trải dài trong mọi sinh hoạt thường ngày như: học tập, lao động, vui chơi-giải trí lành mạnh, hay mục vụ ...[4]

Ngoài những giờ học hỏi, chia sẻ và thảo luận sôi nổi với nhau về các đề tài, trong suốt hội nghị các tham dự viên còn sống bầu khí đậm tình huynh đệ qua những chia sẻ nhân bản và mục vụ trong ngày sống, đặc biệt là các sinh hoạt thiêng liêng bao gồm nguyện gẫm, các giờ kinh phụng vụ, Thánh lễ, lắng nghe Lời Chúa, chầu Thánh Thể...


















Hội nghị kết thúc với Thánh lễ tạ ơn Thiên Chúa vào sáng thứ Bảy, ngày lễ kính Đức Mẹ, mẹ của các linh mục. Dù tuần lễ gặp gỡ và chia sẻ đã khép lại, nhưng tất cả những kinh nghiệm được học hỏi và tích lũy trong Hội nghị này sẽ là hành trang quý giá cho các nhà đào tạo trong sứ mạng của họ nơi các Đại chủng viện.

Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, ban thêm mọi ơn lành hồn xác, nhất là ơn khôn ngoan và lòng nhiệt thành cho các nhà đào tạo, để họ có thể chu toàn sứ vụ được Giáo Hội Việt Nam ủy thác, vốn cao quý nhưng cũng đầy khó khăn này.

Ban Thư ký Hội nghị

[1] Bộ Giáo Sĩ, Đào Tạo Linh Mục: Hồng Ân Ơn Gọi Linh Mục, 2016, tr. 9.


[2] Sđd, số 90 và 91.


[3] Paolo VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 41.


[4] 1Cr 10,31.

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2019

GX Thiên Ân rửa tội cho các em nhỏ thứ bảy đầu tháng 06-07-2019.


Xem toàn bộ ảnh tại đây. ( CLICK HERE )

Tập tục làm phép nhà

Tập tục làm phép nhà

Có nhiều gia đình Công Giáo xưa nay có nếp sống đạo đức, khi dọn vào cư ngụ trong căn nhà mới, thường xin làm phép nhà cho ở được bằng an.

Tập tục đạo đức làm phép nhà không là một Bí Tích, nhưng được biểu hiệu là một á Bí tích. Đó là những thu thập lời cầu nguyện vị chủ tế đọc trong các lễ nghi phụng vụ. Các lời cầu nguyện này có từ thời Giáo hội sơ khai, thời Trung cổ, đọc tự phát truyền miệng, nhưng từ thời thế kỷ 10. sang thế kỷ 11. được thu thập viết lại thành văn bản. Và từ 1570 được hệ thống đơn giản trong sách nghi lễ phụng vụ Roma. 

Tập tục đạo đức này tuy là cung cách sống đức tin cung cách bình dân, nhưng có nguồn gốc từ trong Kinh Thánh.

Ngày xưa, như phúc âm Chúa Giêsu theo Thánh Luca thuật lại, khi sai các Môn đệ ( 72 vị) đi rao giảng tin mừng nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu căn dặn họ: „ Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: 'Bình an cho nhà này’.“ ( Lc 10,5).

Bình an cho đời sống là điều cần thiết cho con người trong đời sống. 

Bình an cho đời sống không bị tai ương đe dọa gây ra sợ hãi lo lắng, không bị bệnh tật yếu đau. Đời sống gia đình được bằng an mạnh khoẻ phần tinh thần cũng như thể xác

Vì thế lời cầu chúc bình an mà vị sứ giả của Chúa cầu xin ơn Chúa xuống cho che chở phù hộ cho ngôi nhà, cho những người sống trong nhà là món qùa tặng thần thánh không báu vật gì có thể so sánh hay mua thay thế được.

Bình an cho đời sống không là một món hàng sản phẩm có thể chế biến làm ra, nhưng là ân đức được ban cho do từ Thiên Chúa, Đấng dựng nên cùng nuôi sống đời sống con người.

Giáo hội Chúa ở trần gian được Chúa sai đi mang tin mừng bình an đến cho con người. Người tín hữu Chúa Kitô cần lương thực cho đức tin tâm hồn qua việc lãnh nhận các Bí Tích. Họ cũng có nhu cầu được chúc lành cầu xin ân đức Chúa xuống qua các Á Bí tích, như nhà ở được làm phép chúc lành, lời cầu xin chúc lành cho đi đường được bình an khoẻ mạnh…

Thời xa xưa lúc Chúa Giêsu Kitô chưa xuống trần gian làm người, Thánh Tiên tri Mose đã nhân danh Thiên Chúa nói lời chúc lành cho dân chúng: “ Xin Chúa chúc lành cho con, và gìn giữ con. Xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con, và thương xót con. Xin Chúa ghé mặt lại cùng con, và ban biình an cho con.“ ( Dân số 6, 23).

Hằng năm vào những ngày đàu năm mới Dương lịch từ sau lễ mừng sinh nhật Chúa Giêsu đến ngày lễ Chúa Hiển linh, các trẻ em bên Giáo hội nước Đức có tập tục đến những nhà muốn xin, vào thăm viếng hát đọc lời chúc mừng năm mới cho nhà này và viết trên ngưỡng cửa, hay trên khung cánh cửa ra vào dòng chữ C * M* B* : Christus Mansionem Benedicat - Xin Chúa Kitô chúc lành cho nhà này!

Tập tục tốt lành làm phép cầu xin chúc lành của Thiên Chúa cho đời sống từ nơi căn nhà cư ngụ sinh sống nói lên lòng tin sâu xa vào Thiên Chúa, đấng là Người tạo dựng, ban ân đức nuôi dưỡng che chở và cùng đích đời sống con người.

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2019

Thấy họ có lòng tin (04.7.2019 – Thứ Năm tuần 13 TN)



Lời Chúa: Mt 9, 1-8
Khi ấy Đức Giêsu xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi!” Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng: “Ông này nói phạm thượng.” Nhưng Đức Giêsu biết ý nghĩ của họ, liền nói: “Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy? Trong hai điều: một là bảo: ‘Con đã được tha tội rồi’, hai là bảo: ‘Đứng dậy mà đi’, điều nào dễ hơn?” Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giêsu bảo người bại liệt: “Đứng dậy, vác giường đi về nhà!” Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.
Suy nim:
Khiêng một người bất toại trên một cái giường là điều không dễ.
Chẳng biết có mấy người khiêng và khiêng bao xa?
Chẳng rõ tương quan giữa họ ra sao, có phải là bạn bè, họ hàng không?
Có điều chắc là anh bất toại không thể tự mình đến với Thầy Giêsu được.
Chân của anh có vấn đề, và thời ấy không có xe lăn như bây giờ.
Anh cần đến sự giúp đỡ của bạn bè quen biết.
Và đã có những người đáp lại vì tình thương đối với anh chịu tật nguyền.
Rồi đã có một cuộc hẹn, và sau đó cả nhóm lên đường.
Tình bạn làm cho đường đến nhà của Thầy Giêsu ở Caphácnaum gần hơn.
Nhưng vất vả, nhọc nhằn thì vẫn không tránh được.
Đưa người bất toại đến với Thầy Giêsu quả là một kỳ công,
vì trong Tin Mừng theo thánh Máccô, họ đã phải đưa người bệnh xuống
qua một lỗ thủng ở trên mái nhà, bởi lẽ không có đường nào khác! (Mc 2, 4).
Dù sao Thầy Giêsu cũng đã thấy lòng tin của họ (c. 2).
Lòng tin là cái bên trong, nhưng được lộ ra ngoài.
Cả người bất toại lẫn các người khiêng đều có chung một lòng tin.
Tin rằng đến với Thầy Giêsu là thế nào cũng được khỏi.
Họ nuôi một niềm hy vọng lớn: khi trở về không phải khiêng nhau nữa.
Anh bất toại có thể đi được bằng đôi chân của chính mình,
và đi ngang hàng với những người bạn khác.
Tin, yêu và hy vọng là những tâm tình có trong tim của nhóm bạn này.
Không có những điều đó thì cũng chẳng có phép lạ khỏi bệnh.
Ơn Thiên Chúa vẫn đến với con người ngang qua lòng tốt của con người.
Nhưng lạ thay Thầy Giêsu lại có vẻ không màng đến chuyện chữa bệnh.
Thầy nói với người bất toại: “Các tội của anh được tha thứ” (c. 2).
Ơn đầu tiên người bất toại nhận được là một ơn mà anh không xin,
ơn đó không phải nơi thân xác, nhưng nơi linh hồn.
Hẳn Thầy Giêsu không có ý nói rằng anh bị tật là vì đã phạm tội.
Nhưng Ngài muốn cho thấy uy quyền của lời Ngài nói.
Lời này có thể tha tội và lời này cũng có thể chữa lành.
Nếu các kinh sư nghĩ rằng Ngài đã nói phạm thượng (c. 3),
dám tiếm quyền tha tội dành cho một mình Thiên Chúa,
thì Ngài sẽ chứng tỏ cho họ thấy Ngài có quyền tha tội dưới đất.
Ngài bảo anh bất toại: “Đứng dậy, vác chõng mà đi về nhà” (c. 6).
Ngài đã không chọn điều dễ hơn (c. 5), điều khó kiểm chứng.
Anh bất toại đã đứng dậy và đi về nhà cùng với các bạn của anh.
Anh đã được hơn cả điều anh mong ước, đó là hồn an xác mạnh.
Đức Giêsu có quyền giải phóng ta khỏi bệnh tật và tội lỗi.
Tội lỗi cũng làm ta bất toại, không đến được với Thiên Chúa và tha nhân.
Nhưng Đức Giêsu đã muốn chia sẻ quyền này cho “loài người” (c. 8).
Môn đệ của Ngài vẫn làm thừa tác vụ chữa lành và tha tội cho đến tận thế.

Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã giúp cho bao người què đi được trên đôi chân của mình.
Chúa đã làm cho người bất toại
nằm chờ đợi nhiều năm bên hồ nước
bất ngờ trỗi dậy, vác chõng và bước đi.
Chúa đã làm cho người bất toại
mà bạn bè vất vả đưa xuống từ lỗ hổng của mái nhà,
được khỏi bệnh, lòng bình an vì được tha thứ.
Chúa đã cho kẻ bại tay được đưa tay ra
và tay anh trở lại bình thường.
Bất toại trên thân xác thật là điều đáng sợ.
Nhưng đáng sợ hơn là thứ bất toại của tâm hồn.
Có thứ bất toại làm chúng con không đến được với người khác,
dù nhà họ ở kế bên nhà chúng con,
không đến được với Chúa, dù Chúa vẫn luôn chờ đợi.
Có thứ bất toại làm chúng con không thể đưa tay ra
để bắt tay người đối diện hay để chia sẻ một món quà.
Có thứ bất toại làm trái tim chúng con khô cứng,
hững hờ trước nỗi đau của người anh em.
Xin giúp chúng con ra khỏi
những thành kiến và mặc cảm, thù oán và ghen tương,
để chuyển động mềm mại hơn dưới sự tác động của Chúa.
Xin cũng giúp chúng con biết khiêm tốn
nhìn nhận sự bại liệt của mình,
và chấp nhận để người khác đưa mình đến gặp Chúa.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.